Kỳ 5: TRUY KÍCH ĐÀN KHỈ
Cuộc đấu trí với con trăn quả là vất vả, ai cũng mệt mỏi, căng thẳng. Chúng tôi quyết định nghỉ suốt buổi chiều hôm đó để hồi sức cho chuyến đi tiếp theo. Tôi không nghĩ mình lại dai sức đến vậy. Mấy ngày lang thang trong rừng, ăn thịt thú, rau măng, tắm nước suối mà vẫn có thể giương khẩu súng chạy theo con sóc đang nhảy nhót trên cây. Rừng núi tự thân đã có sức hấp dẫn ghê gớm đối với những người mê khám phá. Sống trong rừng, con người như được trở về thời nguyên sơ.
Nằm ngửa trong rừng và nhìn lên cao, có cảm giác đang trông cái biển không đáy và dường như cái biển ấy trải rộng dưới lưng. Những đám mây trắng trôi tới và lướt qua như những đảo ngầm thần kỳ. Trong khung cảnh rất đẹp, bỗng nhiên có một con thỏ trắng lò cò chạy qua. Dù bắn súng không giỏi như mấy thợ săn thiện nghệ, nhưng tôi cũng có thể bắn trúng nó lắm chứ. Một phát nổ súng kíp có tới hàng trăm viên đạn chì bay về hướng nó, sao chẳng có một hai viên găm vào. Nhưng tôi chỉ giương súng vậy thôi, rồi lại hạ xuống. Tôi không dám hình dung con thỏ rừng dễ thương lại bị hạ trước nòng súng của mình.
Sau một ngày nghỉ ngơi, thưởng thức thịt trăn luộc và thịt chồn, ai cũng cảm thấy khoan khoái, dễ chịu. Trước mắt là ngày đường để đến khu rừng Thông Nguyên. Đám thợ săn này là những kẻ lãng du mang bộ mặt sát thủ. Họ muốn số loài thú bị tiêu diệt mỗi ngày lại dày lên trong tay họ, để khi về già, đêm đêm, dưới ánh lửa bập bùng, họ kể với con cháu mình chiến tích giết chóc với một thái độ rất tự hào. Còn tôi, trong chuyến đi kỳ lạ và hiếm có trong đời này, tôi muốn được nghe hơi thở với những tiếng than khóc của rừng.
Con đường đến rừng Thông Nguyên cũng như những con đường khác, cũng trèo đèo, cũng lội suối, cũng xuyên rừng. Với đám thợ săn này thì rừng là nhà, thú rừng, cây rừng là thực phẩm. Khi đã trong vòng tay của mẹ rừng thì những đứa con của rừng chả bao giờ sợ chết đói. Họ có thể lang thang cả tháng trong rừng mà vẫn có thịt để ăn. Món ăn chỉ là thịt nướng, thịt luộc, tuy không có nhiều gia vị, song vẫn thấy rất ngon, bởi vì đói, bởi vì được thưởng thức hương vị nguyên sơ của rừng, đó là một cái thú, cái thú của những kẻ đi săn.
Đứng trên sườn núi cao, nhìn cánh rừng Thông Nguyên như một tấm thảm xanh khổng lồ. Từ trung tâm xã Thông Nguyên vào đến Phìn Hồ, một bản giữa rừng, mất 15 cây số nữa. Bản Phìn Hồ là một ốc đảo giữa đại ngàn hoang thẳm. Qua bản Phìn Hồ, chúng tôi đi thẳng vào khu vực theo lời Mìn thì có rất nhiều khỉ. Trên con đường mòn nhỏ xíu, thăm thẳm ấy, chim chóc líu lo ran cả góc trời. Đi mãi, đi thật sâu vào rừng… Rừng trở nên hoang vắng, yên tĩnh đến khó hiểu, cảnh vật mơ màng, êm dịu.
Mọi người dừng chân lập trại. Tôi cùng Khưa, Cheng, Mìn vác súng đi dọc triền suối. Chúng tôi dò từng bước thận trọng. Thỉnh thoảng Khưa lại dừng chân vểnh tai nghe ngóng tiếng kêu phát ra từ những tán cây cổ thụ. Khu rừng này khá hỗn tạp. Dưới triền núi là một cánh rừng bạt ngàn tre nứa lẫn những bụi vầu khổng lồ. Tre nứa mọc ken đặc, tưởng chừng con chim cũng khó mà bay từ thân cây tre này sang thân cây khác được. Vừa lò dò từng bước, Khưa vừa giảng giải cho tôi nghe đặc tính của những loài khỉ trong khu rừng này. Ở đây có 3 loài khỉ sinh sống, đó là khỉ cu li, khỉ cộc và khỉ đuôi lợn. Khỉ cu ly theo tiếng Nùng gọi là Na nhúm, khỉ cộc là Lình căng, khỉ lợn gọi là Tù lình dau. Loài khỉ thường sống ở trên núi, trong rừng tre, nứa và chúng thường đi thành đàn từ 5 đến 20 con, thậm chí có đàn tới 40 con.
Thợ săn thường chọn con đầu đàn hoặc con đực để bắn, vì những con đực và con đầu đàn to hơn những con cái rất nhiều. Trong đàn chỉ có một con đầu đàn và 2 đến 3 con đực. Con đầu đàn to, khoẻ mạnh, nhanh nhẹn và rất thông minh. Nó có vai trò quan trọng nhất đàn. Nó thường đi riêng một mình trong quá trình kiếm ăn và luôn ở vị trí cao hơn, khả năng quan sát xung quanh tốt hơn. Nó ngồi riêng một mình khi cả đàn nghỉ ngơi, chuốt lông. Buổi chiều, khi đàn về chỗ ngủ, con đầu đàn thường đi trước, thái độ thận trọng và cảnh giác với mọi tiếng động hoặc vật lạ trên đường đến nơi ngủ.
Bài giảng đang vào hồi sôi nổi thì đột nhiên Khưa dừng lại và dỏng tai nghe. Tôi cũng bập bõm nghe thấy tiếng kêu “khoọc khoọc” phát ra từ rừng tre phía trên sườn núi. Khưa bảo tiếng kêu “khoọc khoọc” đó là tiếng gọi bầy của khỉ. Chúng tôi đeo súng trên vai rồi bắt đầu cuộc xâm nhập thế giới của loài khỉ. Cả đám trườn nhẹ nhàng theo Khưa như bộ đội đặc công đang thâm nhập vào đồn địch. Không có tiếng động gì ngoài tiếng lạo xạo rất nhẹ của lá khô, tiếng gai cào vào da thịt rớm máu và tiếng thở đều đều rất nhẹ của mọi người.
Cách chúng tôi hơn trăm mét, những con khỉ mặt đỏ, có bộ lông vàng nhạt đang nô đùa làm nghiêng ngả những ngọn tre, nứa. Mìn chỉ tay về phía bụi vầu to tướng, giữa thân một cây có con khỉ lớn gấp đôi những con khỉ khác. Theo phán đoán thì đó là con khỉ đầu đàn, nó đang thận trọng quan sát xung quanh. Để đảm bảo an toàn thì trước mắt phải bắn hạ con khỉ đầu đàn. Khi con khỉ đầu đàn bị chết thì bọn khỉ còn lại sẽ tan rã, chạy mất. Nếu con khác bị bắn mà khỉ đầu đàn còn sống thì nó sẽ gọi cả đàn hợp lực lại cứu con khỉ bị trúng đạn hoặc liều mạng tấn công kẻ thù.
Để bắn hạ con khỉ đầu đàn chắc ăn, Khưa nhẹ nhàng bò lại gần hơn. Khi còn cách độ 20m, gã giương súng ngắm thẳng vào ngực nó. Ngón tay trỏ vừa chạm vào lẫy thì nó nhảy xuống đất và phát ra tiếng kêu “hộc hộc” rợn người. Mìn bảo rằng con khỉ đầu đàn đã phát hiện ra kẻ thù, tiếng kêu “hộc hộc” đó là tín hiệu báo động chuẩn bị chạy trốn hoặc tấn công. Sau khi con khỉ đầu đàn phát tín hiệu thì cả đàn đều phát tín hiện “hộc hộc” theo, con nào cũng trở nên thận trọng và hung dữ. Chúng tôi nằm im, không một chút cử động, chờ xem phản ứng của đàn khỉ ra sao. Khưa, Mìn, Cheng lăm lăm súng trong tay sẵn sàng chiến đấu nếu đàn khỉ tấn công. Lúc này, quan sát kỹ tôi mới thấy đàn khỉ này đông khủng khiếp, dễ đến 30 con cả to lẫn nhỏ. “Hộc, hộc” và nhảy nhót lăng quăng một lúc rồi con khỉ đầu đàn chạy thẳng lên phía đỉnh núi, cả đàn ào ào nhảy xuống đất chạy theo. Khưa kéo cò, một tiếng nổ đanh gọn, khói bốc mù mịt nơi nòng súng. Tôi nghe rõ tiếng rào rào của những viên đạn chì găm vào thân nứa, thân vầu. Lá rụng tả tơi. Chú khỉ con nhảy ào xuống đất và thoát chết trong gang tấc. Sau tiếng nổ đanh gọn đó, chỉ còn thấy những tiếng “khoọc khoọc” nhỏ dần rồi mất hút. Khu rừng trở nên yên ắng đến lạ thường.
Mọi người xốc lại quần áo. Khưa bảo rằng tìm ra đàn khỉ này không khó lắm, cứ theo vết nó mà tìm, có điều giờ chúng sẽ thận trọng và cảnh giác cao độ, bắn được chúng không phải dễ dàng. Thông thường, khi đã bị theo đuổi, chúng kéo nhau đến những cây cao to dưới thung lũng, hoặc trước cửa hang động, đặc biệt là ở những cây tán rộng mọc ở các khe suối để ẩn nấp. Những cây mọc ở ven suối, tán cây ngả ra suối là nơi an toàn nhất với chúng, bởi vì khi phân và nước giải rơi xuống đất sẽ bị nước suối cuốn đi, kẻ thù không dễ gì phát hiện ra được.
Ngày trước, ở Hoàng Su Phì, đâu đâu cũng có khỉ, khỉ mò cả vào vườn nhà dân trộm hoa quả. Thế nhưng, từ ngày rừng bị tàn phá chúng phải sống co cụm lại ở một số khu rừng, như vậy, đám thợ săn lại càng có điều kiện tiêu diệt nhanh gọn. Người dân ở đây săn khỉ bằng mọi phương pháp, nào là dùng bẫy cần giật, bẫy lồng sập, bẫy kẹp để bắt sống hoặc tiêu diệt bằng nỏ, súng kíp, súng hai nòng bắn đạn ghém… Đám thợ săn chuyên nghiệp còn dùng chó xua đuổi, dồn đàn khỉ lại để bắn. Một số bản làng dùng lửa đốt quanh rừng có khỉ và đánh trống chiêng inh ỏi suốt ngày đêm. Đàn khỉ sợ hãi không ăn, không ngủ rồi bị đói và rơi xuống đất, thế là người ta trói lại đem về làm thịt, nấu cao. Ở Thông Nguyên người ta có cả bẫy lồng để dồn cả đàn vào. Ăn thịt không hết thì mổ bỏ nội tạng đem sấy, ép rồi bán cho lái buôn.
Khỉ là loài rất dễ bị tuyệt chủng. Mỗi lứa chúng chỉ đẻ một con, y như người, thế nhưng, thế hệ kế cận phát triển rất kém, chỉ sống được từ 20 đến 30%. Hơn nữa, đám thợ săn lại chỉ nhắm bắn những con khỉ đầu đàn, khỉ đực, khiến số lượng con đực trong đàn đã ít lại càng ít hơn. Nguy cơ đàn khỉ ở vùng đất này tuyệt chủng là điều sẽ xảy ra trong tương lai gần.
Đàn khỉ thường sống ở một khu vực nhất định, rộng chừng 3 đến 6km2, nên tìm chúng không khó. Gần một tiếng men theo bờ suối, đúng như phán đoán của Khưa, đàn khỉ đang núp trên tán một cây sồi cổ thụ, tán lá um tùm ngả ra suối. Nhìn kỹ mới thấy thấp thoáng màu lông vàng của chúng qua kẽ lá. Mọi người quan sát mãi mà không thấy con khỉ đầu đàn đâu. Khưa men lại gần phía cây sồi. Cheng, Mìn lăm lăm súng trong tay theo sau. Bất chợt tiếng kêu “hộc hộc” phát ra. Lúc này mọi người mới nhìn thấy con khỉ đầu đàn đang lồng lộn ở cây sến ngay trên đầu. Nò nhảy vèo xuống đất, cả đàn nhảy theo lẩn nhanh vào rừng. Từ sau gáy tôi phát ra tiếng “đoàng” đanh gọn. Cheng đã bắn trúng mục tiêu, con khỉ nhỏ rơi tõm xuống suối, đàn khỉ mất hút trong rừng sâu. Có lẽ do biết không thể cứu được nạn nhân nên chúng đành lẩn trốn cả.
Sên túm đầu con khỉ như túm đứa trẻ rồi dùng chiếc dao cực sắc phạt một nhát bay mất mảnh da đầu. Bốn gã thợ săn xúc óc con khỉ ăn ngon lành. Nhìn cảnh đó, tôi suýt nôn oẹ. Thú thực, đến bây giờ tôi vẫn còn thấy dờn dợn mỗi khi nghĩ đến bộ não nham nhở, nhoe nhoét tóc tai của con khỉ đáng thương và phải rất lâu sau đó tôi mới không còn bị ám ảnh bởi ánh mắt trợn ngược, trắng ơn ởn của nó như nhìn tôi trách móc.

Hình ảnh 1 thợ săn… giả cầy!
(Còn nữa)
(P/S: Đây là ký sự viết năm 2000, tức là cách nay 25 năm. Khi đó, rừng rú ở Hoàng Su Phì còn rậm rạp, thú dữ còn nhiều và việc săn bắn chưa được coi là phạm pháp. Câu chuyện này lạc hậu rồi, nhưng đọc lại để đắm mình vào một thời kỳ huyền bí lãng mạn với rừng già của người dân vùng cao. Chuyện đã cũ, đọc cho vui và hiểu được sự cầu kỳ của kỹ năng săn thú của người thời xưa để tồn tại, các bố chớ có ném đá là lâm tặc nhé).









